05:35 ICT Chủ nhật, 17/12/2017 Khung kế hoạch thời gian năm học 2017 - 2018 Bộ GD-ĐT | Thông tư 15/2017 bổ sung điều chỉnh thông tư 28/2009/TT-BGD&ĐT | Thông báo mời họp CMHS lớp 1 đầu năm học 2017 - 2018 | Quy định về đạo đức nhà giáo | VP HĐND Tỉnh ký kết hỗ trợ xây dựng NTM xã Thạch Thắng | Kết quả thi IOE cấp trường năm học 2016 - 2017 | Thời khóa biểu nam học 2016 - 2017 | Kế hoạch năm học 2016-2017 | Kể chuyện theo sách - một hoạt động bổ ích | Thông báo làm thủ tục nhận hỗ trợ chi phí học tập | 

DANH MỤC

LIÊN KẾT WEBSITE

VIDEO

Loading the player...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 25


Hôm nayHôm nay : 31

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1099

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 99668

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức nổi bật » Tin Nhà trường

Một số mẫu chuyện về các anh hùng liệt sỹ, cựu chiến binh sinh ra trên quê hương Thạch Thắng

Thứ năm - 07/01/2016 08:52
                                                               Lời giới thiệu
 
Trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc, hàng triệu người dân yêu nước Việt Nam đã đem tuổi xuân xanh hiến dâng cho Tổ quốc.
Cuộc chiến đã kết thúc nhưng dư âm sẽ còn vang vọng mãi trong hồn thiêng sông núi. 87 người con yêu dấu của quê hương Thạch Thắng đã anh dũng hy sinh, nhiều cán bộ, chiến sỹ đã bỏ lại một phần xương máu trên các chiến trường. Họ mãi là tấm gương sáng mãi khí thế oai hùng của sông núi Việt Nam. Ký ức về những con người, về cuộc chiến được sống dậy trong từng mẫu chuyện của các em học sinh. Những câu chuyện này là kết quả của một cuộc thi do Liên đội trường Tiểu học Thạch Thắng tổ chức mang tên " Kể chuyện về các anh hùng liệt sỹ, thương binh, Cựu chiến binh xã Thạch Thắng".
Qua lời kể hồn nhiên, giản dị của các em, hình ảnh của những con người đã đi vào lịch sử sẽ hiện về như khẳng định công ơn to lớn của các anh cho đất nước, cho cuộc sống hôm nay, cho trường tồn của dân tộc.
 
                                                                                                                                         _____Ban biên tập_____
 

                                                                              Chuyện kể về Thiếu tướng Anh hùng Hoàng Trọng Tình.
          Anh hùng Hoàng Trọng Tình sinh năm 1949 tại thôn Trung Nghĩa ( nay là thôn Trung Phú) xã Thạch Thắng, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay đã nghỉ hưu ở phường Thạch Phú, thành phố Hà Tĩnh.
Tháng 9 năm 1973, Hoàng Trọng  Tình được giao làm Chính trị viên Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Cả Tiểu đoàn và Trung đoàn đều lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến dịch năm 1972 và là đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 304 được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Tháng 7 năm 1974, Sư đoàn được Bộ Tổng tham mưu điều từ Quảng Trị vào tăng cường cho Quân khu 5 tấn công tiêu diệt chi khu quân lỵ Thượng Đức, đập tan cánh cửa phía Tây vào Đà Nẵng, mở rộng vùng giải phóng.
Qua 10 ngày thử thách ác liệt, cùng với các đơn vị bạn, Trung đoàn 66 một lần nữa chứng minh được hào khí anh hùng của mình, cắm lá cờ cách mạng kê chi khu Thượng Đức. Trong dày đặc khói mù của thước súng và bom đạn, đứng nhìn quân lỵ Thượng Đức tan hoang, đổ nát, Hoàng Trọng Tình không thể tin được chiến thắng đã là một sự thật hiển nhiên. Bởi Thượng Đức là cánh cửa thép bảo vệ phía Tây Đà Nẵng, là đại bản doanh của Quân đoàn I ngụy do Tướng Ngô Quang Trường chỉ huy. Ba năm liền từ 1968-1970, quân ta đã nhiều lần tấn công Thượng Đức nhưng không thành công. Và lần này, trước hệ thống phòng thủ hết sức kiên cố của địch, Trung đoàn 66 của anh đã phải chịu tổn thất khá nặng nề mới giành giật được. Cuối cùng thì lời tuyên bố ngạo mạn của kẻ địch hôm nào: " Nước sông Vu Gia có chảy ngược thì Việt cộng mới lấy được Thượng Đức" đã trở nên huênh hoang, trống rỗng.
Sau nhiều tháng tổ chức, lực lượng hòng tái chiếm Thượng Đức không thành công, Trung đoàn 2 của Sư đoàn 3 và Sư đoàn 1 dù được coi là đơn vị thiện chiến bậc nhất trong tổng dự bị chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu đã bị đánh tan. Địch tiếp tục tung Lữ đoàn 369, Sư đoàn Thủy quân lục chiến lên ngăn chặn quân ta mở rộng địa bàn chiến lược vào Đà Nẵng. Từ ngày 24-27/3/1975, Trung đoàn 66 chuẩn bị bước vào một trận đánh lớn tiêu diệt kẻ thù. Hoàng Trọng Tình nay được điều về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 8,chỉ huy Tiểu đoàn phòng ngự phía trước ở khu vực Bàn Tân 2. Khoảng hơn 4 giờ sáng, ngày 27/3, anh nhận được lệnh của Chính ủy Trung đoàn Lê Xuân Lộc: nhanh chóng tổ chức tiểu đoàn thành lực lượng tiến công mở đầu, theo trục đường 14 đánh thẳng vào sân bay và trung tâm thành phố. Lồng ngực anh và các cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn như muốn vỡ òa vì sung sướng khi nghe phổ biến nhật lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh: " Thần tốc, táo bạo, nhanh chóng đánh chiếm thành phố Đà Nẵng". Chính ủy Lê Xuân Lộc quán triệt thêm:" Phải hết sức tranh thủ thời gian, không để mất thời cơ. Chỗ nào địch cứng thì bỏ qua, lấy mục tiêu chiếm thành phố làm chính". Đây là lần đầu tiên của anh nghe nhắc nhở một cách đánh khá lạ. Nhưng linh tính báo có một điều gì đó hệ trọng sắp xảy ra nên ai nấy đều háo hức, chờ mong.
Không kịp thổi cơm, Chính trị viên Hoàng Trọng Tình cho anh em ăn lương khô rồi theo trục đường số 14 chọc thẳng vào Đà Nẵng. Một cảnh tượng hỗn loạn diễn ra trên suốt dọc đường. Dân chạy loạn, địch chạy trốn, đan xen nhau, nhốn nháo không kể xiết. 2 giờ sáng ngày 29/3 quân ta chiếm luôn quận lỵ chi khu Ái Nghĩ, 4 giờ sáng hôm sau vào được trung tâm thành phố. 12 giờ trưa thì hoàn toàn làm chủ sân bay Nước Mặn và một số mục tiêu trong nội thành Đà Nẵng.
Hàng vạn tù binh ngụy bị về chỗ tập trung, vẻ mệt mỏi, chán chường. Hơn một ngày đêm, Hoàng Trọng Tình và các chiến sỹ đã vượt hơn 40 km với bao lực lượng, phòng tuyến cực mạnh của địch chốt giữ. Nhìn thành phố lung linh, rực rỡ sắc màu, hôm qua còn là ước ao, nay đã về tay mình, mọi người vẫn còn ngỡ ngàng như đang trong mơ.
Cũng cố lực lượng, bổ sung đạn dược và quân dụng đơn vị lại cùng sư đoàn quân đoàn làm một cuộc hành quân thần tốc dọc theo miền duyên hải trục đường 1. Chỉ sau hơn 11 ngày đơn vị đã vượt qua chặng đường dài gần một ngàn km xuyên qua 3 quân khu, đi qua 11 tỉnh, 18 thị xã của địch. Trong đó nỗi bật nhất là tiêu diệt và làm tan rã 5.000 tên địch, giải phóng thị xã Hàm Tân, góp phần đập tan hệ thống phòng thủ Sài Gòn từ xa trên hướng Đông của Mỹ - Ngụy.
Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, Quân đoàn 2 được lệnh tấn công. Sư đoàn 304 của Hoàng Trọng Tình đánh vào căn cứ Nước Trong, là điểm phòng ngự rắn nhất còn lại của địch trên hướng Đông Nam Sài Gòn. Ròng rã gần 3 ngày đêm giành giật quyết liệt, hai bên đều bị tổn thất lớn, đến 10 giờ sáng ngày 29/4/1975 chúng ta hoàn toàn làm chủ khu vực Nước Trong và ngã ba đường 15, sẵn sàng tiến quân vào Sài Gòn.
Trung đoàn 66 là lực lượng chủ yếu, nằm trong đội hình thọc sâu gôm cả xe tăng, pháo binh, công binh, tấn công vào nội thành, với mục tiêu chủ yếu là Dinh Độc Lập.
Trước sức mạnh như triều dâng bão cuốn của quân ta, xe tăng M113 chờ quân tiếp viện hốt hoảng húc vào nhau và trở thành những đống sắt vụn bất động trước hỏa lực của B40, B41 và pháo bắn thẳng. Tăng cháy, địch bỏ chạy trong nháo nhác, hoảng loạn vẫn không làm người dân Sài gòn bận tâm. Bà con mở toang cửa sổ, kéo lên đứng chật ban công các nhà cao ốc, hồ hởi. Đúng 11 giờ ngày 30/4/1975, lực lượng thọc sâu đã dành được Dinh Độc Lập, bắt gọn cả Tổng thống Dương Văn Minh lẫn một số thành viên nội các Sài Gòn.
Hoàng Trọng Tình chỉ thị cho Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 nhanh chóng luồn lách qua các chướng ngại, lao thẳng vào cổng Đài Phát thanh ngụy. Đài nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đối diện với cục An ninh nhân dân. Khi quân ta tiến vào Cục An ninh thì không còn bóng dáng một ai. Đồ đạc, giấy má, tài liệu bừa bãi, ném vương vãi khắp nơi. Tên Đại tá Cục trưởng An ninh trong hoảng loạn, dùng súng giảm thanh tự sát chết ngay tại phòng làm việc.
Chiếm giữ xong Đài phát thanh, Hoàng Trọng Tình giao nhiệm vụ cho Đại đội 5 bảo vệ nghiêm ngặt, an toàn cho Đài để chuẩn bị cho Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Mặt khác, nhờ bà con đi tìm các nhân viên của Đài đang lẫn trốn trở về vị trí làm việc. Hơn 11 giờ trưa ngày 30/4, chiếc xe Zep do Trung đoàn phó Nguyễn Xuân Thệ và một số sỹ quan đi cùng áp giải Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Ngọc Mẫn dừng lại trước thềm Đài. Ông Minh ăn mặc dân sự, quần áo màu sẫm, cốt cách đạo mạo, xuống xe bước vào phòng thu của Đài.
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 từ căn phòng lịch sử này vang lên lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng Miền Nam của viên tổng ngụy cuối cùng - Đại tướng 4 sao Dương Văn Minh. Cờ cách mạng tung bay ngạo nghễ trên nóc Dinh Tổng thống và các cơ quan, công sở ngụy.
Những người lính chúng ta trong những bộ quân phục mới toanh, không kể đơn vị, lạ, quen ôm chầm lấy nhau mà hôn, mà khóc. Những giọt nước mắt cảm động, vui sướng cứ thế tuôn chảy trên các khuôn mặt còn sạm đen khói.
"Cảm nghĩ của tôi trong trong giờ phút thiêng liêng trọng đại trước chiến thắng vinh quang ấy thật khó tả nổi. Khi đối diện với Tổng thống Dương Văn Minh và chuẩn bị để ông ta đọc tuyên bố đầu hàng, tôi thầm nhớ lại chặng đường chiến đấu đầy khốc liệt, mất mát, hi sinh của Trung đoàn 66 anh hùng với bao đồng đội đã ngã xuống".
Nhớ lại ngày 16/9/1973, Hoàng Trọng Tình vinh dự cùng anh em đón Thủ tướng Phi - đen và Phạm Văn Đồng vào thăm Quảng Trị. Tại điểm cao 241 Cam Lộ, khi Phi - đen đứng trên khẩu pháo 175 li " vua chiến trường" của quân ngụy bị ta thu giữ, tay phất cao lá cờ Quyết thắng, hô to: " Hẹn gặp các đồng chí tại thành phố Sài Gòn", các anh đầy háo hức, song nghĩ vẫn còn xa vời vợi.
" Trong cuộc đời chinh chiến của mình, có biết bao trận đánh đã đi qua, bao mất mát hy sinh đã nếm trải, nhưng được trực tiếp chứng kiến một Đại tướng Tổng thống đối phương mặt cúi gầm buồn bã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện thì chắc cũng chỉ có một lần mà thôi!"
Hoàng Trọng Tình rưng rưng nước mắt. Tôi biết, anh đang nghĩ đến những đồng đội, đồng hương thân thương bao ngày đêm chia ngọt sẻ bùi như Đại đội trưởng Chung, Chính trị viên Nam người Nghệ Tĩnh, Chính trị viên Diễn người Thanh Hóa, ... đã ngã xuống trước cửa ngõ Sài Gòn, không được cùng anh em chào đón những phút giây lịch sử.
Được nghe anh hùng, Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình - người con của quê hương Thạch Thắng, kể chuyện về cuộc đời chinh chiến của mình, em quý trọng, biết ơn các anh hùng liệt sỹ, các chú thương binh gấp bội lần. Chúng em rất tự hào về các anh. Quê hương Thạch Thắng thật hãnh diện về những con người như các anh.
Là học sinh trường Tiểu học Thạch Thắng, chúng em xin hứa sẽ chăm ngoan, học giỏi để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của anh.
                                                                                                                         Người sưu tầm: Hoàng Thị Hà - HS lớp 4B

                                                                                           Ông em - Người bộ đội Cụ Hồ

Ông nội em là Nguyễn Đình Nghị. Ông sinh ngày 14/08/1949, nhập ngũ ngày 23/08/1966, nguyên thiếu tá - Phó Trung đoàn trưởng chính trị, đơn vị thuộc Trung đoàn 542 - Sư đoàn 473. Hiện nay, ông đã nghỉ hưu tại địa phương từ ngày 01/01/1991.
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đơn vị ông lúc đó là Đại đội 1 - Tiểu đoàn 48A thuộc tỉnh đội Hà Tĩnh.
Tháng 11 năm 1969 được lệnh của cấp trên, đơn vị phải sang chiến đấu giúp đất nước Lào. Đơn vị hành quân từ Việt Nam sang Lào, đi bộ hết năm đêm.
Đơn vị ông đã lập nhiều chiến công trân chiến trường Lào. Tiêu biểu là chiến thắng tiêu diệt cứ điểm Bốt Thổm Lôm.
Vào ngày 13/02/1971, đơn vị được lệnh đánh địch tại Bốt Thổm Lôm. Đơn vị đã tổ chức đi trinh sát nắm tình hình địch trước hai ngày, sau đó xây dựng quyết tâm tiêu diệt cứ điểm của địch tại Bốt Thổm Lôm.
Đúng 6 giờ ngày 15/02/1971, đơn vị hành quân đi chiến đấu. Mỗi người lính được trang bị một khẩu súng AK, 300 viên đạn, 4 quả lựu đạn và 4 quả bộc phá. Lương thực mang đi chủ yếu là lương khô và uống nước suối. Trong hành quân không ai được nói, cười, đùa, phải giữ bí mật tuyệt đối.
Đối với địch, trong Bốt có 50 tên, vũ khí có: 2 khẩu pháo DKZ 57 ly, 2 khẩu súng cối 81 ly, 2 khẩu súng cối 61 ly và nhiều loại vũ khí khác. Quân địch đóng trên đồi cao, xung quanh có giao thông hào và 2 lớp hàng rào có giây thép gai bảo vệ.
Đúng 3 giờ sáng ngày 16/02/1971, quân ta đã áp sát mục tiêu và bắt đầu nổ súng. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt tại chổ 31 tên, bắt sống 2 tên, số còn lại chạy thoát. Quân ta làm chủ trận địa và thu được toàn bộ vũ khí của chúng.
Kết thúc trận chiến cả đơn vị chỉ có 2 người bị thương nhẹ; cán bộ và chiến sỹ trong đơn vị ai nấy đều rất phấn khởi và đã rút ra được nhiều bài học quý cho các cuộc chiến đấu sau này. Đồng thời đơn vị được tư lệnh quân khu 4, Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh và tỉnh Bô - Ly -  Khăm - Xay  Lào biểu dương, được quân và dân Lào quý mến và khâm phục tinh thần anh dũng chiến đấu của quân và dân Việt Nam.
                                                                                                                      Người sưu tầm: Trần Quốc Khánh - HS lớp 4B
 

                                                                             Tấm gương Liệt sỹ Thầy giáo Nguyễn Văn Đức
Trong sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, quê hương em có 87 người con đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường. Em đã được nghe ông, bà kể lại những tấm gương anh hùng liệt sỹ đó. Nhưng ấn tượng nhất đối với em là Liệt sỹ Nguyễn Văn Đức, một người Thầy giáo đã hy sinh cao cả để lại nhiều niềm thương tiếc cho thế hệ chúng em.
Liệt sỹ Nguyễn Văn Đức con ông Nguyễn Văn Tính và bà Trần Thị Mân ở thôn Đông Quý Lý, xã Thạch Thắng, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, với một tuổi thơ vất vả, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng danh đã gắng sức học tập để đưa cái chữ đến với các em học sinh vùng quê nghèo khó và ước mơ làm nghề Thầy giáo thay Đảng rèn người của anh đã trở thành hiện thực. Anh đã từng dạy ở trường Tiểu học Thạch Châu, sau đó do hoàn cảnh vợ yếu con thơ anh được chuyền về trường Tiểu học Tượng Sơn rồi về trường Tiểu học Thạch Thắng. Trong lúc bấy giờ, đất nước ta bước vào chiến tranh ác liệt theo lời Đảng gọi tổng động viên; với khí tiết của người Cộng sản, anh đã từ biệt mái trường, từ giả quê hương, chia tay bố mẹ già, người vợ trẻ và hai đứa con thơ dại, tình nguyện lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Nhập ngũ tháng 6 năm 1968, anh tham gia chiến đấu ở mặt trận phía Tây, trong chiến đấu anh rất gan dạ, không sợ hy sinh, anh đã xả thân lao vào đồn địch để đồng đội tiến lên dành thắng lợi, anh đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời chưa tròn31, trong niềm thương tiếc của bạn bè, của đồng đội, bố mẹ già, người vợ trẻ ở quê hương khóc anh cạn khô dòng nước mắt nhưng vẫn nén yêu thương thành hành động vì sự hy sinh của anh là sự hy sinh oanh liệt đáng tự hào cho gia đình, dòng họ và cho quê hương xã Thạch Thắng.
Hôm nay đây, khi chúng em được học dưới mái trường khang trang như thế này, chúng em càng biết ơn công lao to lớn của các anh, các anh đã ngã xuống, giọt máu của các anh đã tô thắm chiếc khăn quàng đỏ trên vai chúng em. Chúng em hứa nguyện ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức trở thành con ngoan trò giỏi để các anh được yên giấc dưới suối vàng.
                                                                                                     Người sưu tầm: Nguyễn Văn Tuấn Anh - HS lớp 5A
 

                                                                                                           Ông nội em
Ông Bùi Văn Chính ở thôn Hòa Bình xã Thạch Thắng là ông nội em. Ông là một thương binh. Ông kể cho chúng em chuyện của ông khi trưởng thành ông đã yêu và lấy bà làm vợ. Nhưng trước hoàn cảnh đất nước lầm than, ông đã theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên đường nhập ngũ để lại quê nhà cha, mẹ già và người vợ trẻ với quyết tâm đánh thắng quân giặc sẽ trở về.
Vào chiến trường ông được cấp trên giao nhiệm vụ nấu ăn cho các chiến sỹ. Hằng ngày, ông phải trèo đèo, vượt suối đi hái rau, mua gạo trong dân để đảm bảo cho đồng đội của mình đủ no, lấy sức đánh giặc.
Làm anh nuôi được hai năm, ông được lệnh cầm súng đi chiến đấu ngoài mặt trận. Ông đã dùng hai bàn tay của mình để chôn cất không biết bao nhiêu đồng đội đã hy sinh. Trước tình cảnh đó càng làm cho tinh thần yêu nước trong ông bùng cháy.  Trong suốt thời gian ở chiến trường ông đã cùng đồng đội chiến đấu rất oanh liệt, với lòng dũng cảm, sự mưu trí ông đã hạ gục được chiếc máy bay của địch. Ông được cấp trên khen và thưởng huân chương nhưng cũng trong trận chiến đó ông đã bị thương ở chân. Ông đã được các bác sỹ và y tá chăm sóc chu đáo nhưng vết thương của ông quá nặng nên không thể tiếp tục chiến đấu. Ông được cấp trên cho về với gia đình. Được trở về quê hương nhưng trong lòng ông vẫn không vui vì không được tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội.
Nghe xong câu chuyện của ông em rất cảm động và tự hào về ông của mình. Em rất hạnh phúc vì được làm cháu của ông, được chung dòng máu của ông. Em hứa sẽ chăm chỉ học tập để sau này trở thành một người có ích cho xã hội, xứng đáng là cháu ruột của ông.
                                                                                                                       Người sưu tầm: Bùi Thị Trà My - HS lớp 2A
 




                                                                                       Chuyện kể về người thương binh
Ở cạnh nhà em có một bác thương binh tên là bác Thường. Bố bác Thường mất sớm. Nhà chỉ còn lại hai mẹ con. Khi mới 17 tuổi, bác Thường đã tình nguyện tham gia nhập ngũ, để lại người mẹ già ở quê thờ chồng, trông con.
Trong cuộc kháng chiến kéo dài ác liệt, thỉnh thoảng mẹ của bác Thường có nhận được thư của con từ chiến trường gửi về. Bên cạnh nhà bác Thường có cô Lương luôn lui tới chăm sóc cho mẹ bác Thường và thay bà cụ viết thư thông báo tình hình cho bác Thường biết.
Một thời gian sau, gia đình không nhận được tin tức gì của bác Thường nữa và tiếp theo là giấy báo tử từ đơn vị gửi về. Lúc ấy, người mẹ già và cô Lương đã khóc cạn dòng nước mắt. Làng xóm cũng chia buồn với gia đình.
Thời gian trôi qua, sau 10 năm cuộc chiến tranh kết thúc niềm vui bất ngờ đã đến với người mẹ già xấu số, người con trai duy nhất đã trở về. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Ai cũng hết sức vui mừng trước sự trở về của bác Thường. Tuy nhiên bác Thường đã bị thương rất nặng và bị hỏng một mắt. Sau đó, cô Lương vẫn một lòng chung thủy và hai người trở thành vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc. Vợ chồng bác Thường rất tốt bụng nên ai cũng quý mến.
                                                                                                            Người sưu tầm: Nguyễn Thị Vân Trinh - HS lớp 2A

                                                                                            LIỆT SỸ NGUYỄN HỮU THỰC
Liệt sỹ Nguyễn Hữu Thực sinh năm 1941 tại thôn Hòa Yên xã Thạch Thắng, huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình yêu nước. Lúc bấy giờ người dân nơi đây sống trong hoàn cảnh nghèo đói, chiến tranh. Từ nhỏ, ông đã giác ngộ được rằng " Muốn có độc lập thì phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ tổ quốc". Chính vì lẽ
đó chưa đầy 18 tuổi theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ "toàn dân kháng chiến" ông đã hăng hái vào Nam giết giặc. Trước khi ra đi ông nói với bạn rằng: " Khi nào đất nước thanh bình tôi sẽ trở về". Ông đứng vào quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đó ông cùng đồng đội vào Nam chiến đấu từ chiến trường này sang chiến trường khác như: Một trận đường là chín trăm đồng đội, đường tiến thành Quảng Trị, Bình Trị Thiên.Ở đây, ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Ông đã khôn khéo trong chiến đấu và được chuyển vào trong vùng hậu địch Thành phồ Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu. Ở vị trí nào ông cũng đi đầu đứng trước và giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Đồng đội rất thán phục ông, trong một trận chiến đấu ác liệt ông đã hy sinh anh dũng ngày 18/04/1967 tại mặt trận Dốc Do tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Khi đất nước thanh bình thì ông không còn nữa. Ông đã ra đi để lại trong lòng mọi người sự tiếc nuối và biết ơn vô hạn.
Hôm nay đây khi cả nước đang hướng tới kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam cháu xin phép ông kể lại câu chuyện này, chúc ông an giấc ngàn thu cùng với đồng đội của mình. Là thế hệ đi sau chúng cháu cũng hiểu được rằng miếng cơm manh áo và cả những nét chữ hôm nay chứa đựng một phần xương máu của thế hệ cha anh đi trước. Cháu nguyện hứa sẽ cố gắng học tập tốt để trở thành con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, sau này lớn lên là người công dân tốt, phục phụ cho tổ quốc, cho nhân dân.
 
                                                                                                              Người sưu tầm: Nguyễn Ngọc Mai HS lớp 4A
   

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

TIN BÀI MỚI NHẤT

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT ỨNG DỤNG